Quy định về tuyển dụng lao động theo Bộ luật lao động năm 2019

Quyền tự do tuyển dụng lao động của người sử dụng lao động được xem là quyền đối xứng với quyền tự do làm việc của người lao động. Hai thứ tự do này bảo đảm cho hai chủ thể của quan hệ lao động tiến tới gần nhau hơn và hình thành nên mối quan hệ lao động (giao kết hợp đồn lao động) bền vững và có mục tiêu rõ ràng.

Bộ luật lao động 2019 ghi nhận quyền tuyển dụng lao động thông qua doanh nghiệp cho thuê lại lao động; người sử dụng lao động còn được tăng, giảm số lượng lao động phù hợp với nhu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm sản xuất, kinh doanh hiệu quả, tránh được những hậu quả do tuyển dụng lao động hoặc do có biến động về sản xuất, kinh doanh dẫn đến việc phải điều chỉnh lực lượng lao động.

Căn cứ vào Điều 11 Bộ luật lao động năm 2019, việc tuyển dụng lao động được quy định như sau:

  • Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm, doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động để tuyển dụng lao động theo nhu cầu của người sử dụng lao động.
  • Người lao động không phải trả chi phí cho việc tuyển dụng lao động.

Như vậy, có thể thấy rằng Nhà nước đã có sự đánh giá đúng mức và quan tâm thích đáng đến yếu tố bảo vệ quyền và lợi ích trong sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động thông qua việc cho phép người sử dụng lao động quyền chủ động về tuyển dụng lao động.

Bộ luật lao động năm 2019 đã bổ sung một quy định mới so với Bộ luật lao động năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2015, 2018 (Điều 11) đó là: Người lao động không phải trả chi phí cho việc tuyển dụng lao động.

Việc bổ sung quy định mới này nhằm phù hợp với tình hình thực tiễn, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động.

So với Bộ luật lao động năm 2012, Bộ luật lao động năm 2019 đã đưa ra thêm một quy định hoàn toàn mới liên quan đến trách nhiệm quản lý lao động của người sử dụng lao động.

Căn cứ vào Điều 12 Bộ luật lao động năm 2019, trách nhiệm quản lý lao động của người sử dụng lao động bao gồm:

  • Lập, cập nhật, quản lý, sử dụng sổ quản lý lao động bằng bản giấy hoặc bản điện tử và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
  • Khai trình việc sử dụng lao động trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bắt đầu hoạt động, định kỳ báo cáo tình hình thay đổi về lao động trong quá trình hoạt động với cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và thông báo cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
  • Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Như vậy, với quy định này sẽ giúp cơ quan Nhà nước thuận tiện hơn trong việc quản lý lao động, từ đó sẽ có điều kiện bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng cửa người lao động./.