Quy định pháp luật đối với lao động nữ (cập nhật mới nhất)

Xuất phát từ đặc điểm riêng của phụ nữ, ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ nên họ chỉ phù hợp trong những điều kiện lao động nhất định.

Vì vậy, các quy định riêng cho lao động nữ nhằm mục đích đảm bảo quyền làm việc của phụ nữ được bình đẳng với nam giới, đồng thời tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt hai chức năng: chức năng lao động và chức năng làm mẹ.

  1. Chính sách đối với lao động nữ

Quy định tại Điều 135 Bộ luật lao động năm 2019 và Nghị định 145/2020/NĐ-CP về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động quy định: nhà nước đảm bảo quyền bình đẳng đối với lao động nữ.

Nhà nước luôn khuyến khích người lao động tạo điều kiện để lao động nữ có việc làm thường xuyên, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi vê vật chất và tinh thần cho lao động nữ nhằm giúp lao động nữ phát huy hiệu quả nghề nghiệp, kết hợp hài hòa cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình.

Người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động nữ được giảm thuế theo quy định của pháp luật về thuế.

Có kế hoạch, biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ và chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động.

  1. Chế độ làm việc đối với lao động nữ

Theo quy định tại Điều 137 Bộ luật lao động năm 2019, người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ, hoặc đi công tác xa. Đối với trường hợp đi công tác xa áp dụng với lao động nữ khi:

  • Mang thai từ tháng thứ 7 hoặc từ tháng thứ 6 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
  • Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người lao dộng đồng ý.

Lao động nữ làm công việc nặng nhọc từ tháng thứ 7 hoặc từ tháng thứ 6 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt 1 giờ làm việc hằng ngày mà vẫn được hưởng đủ lương.

Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lí do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Lao động nữ trong thời gian hành kinh  được nghỉ mỗi ngày 30 phút, trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc và vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

Điều 142 Bộ luật lao động năm 2019 quy định các công việc không được sử dụng lao động nữ như sau:

  • Công việc ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh đẻ và nuôi con theo danh mục Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ y tế ban hành.
  • Công việc phải ngâm mình thường xuyên dưới nước.
  • Công việc làm thường xuyên dưới hầm mỏ.

Trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới (theo Khoản 3 Điều 137 Bộ luật lao động năm 2019).

  1. Chế độ thai sản đối với lao động nữ

Theo quy định tại Điều 139 Bộ luật lao động năm 2019 ”lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng”. Trong thời gian nghỉ thai sản các chế độ áp dụng với lao động nữ được thực hiện theo quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội, trong đó có chế độ hưởng đủ tiền lương là quan trọng nhất, đảm bảo quyền lợi về mặt vật chất cho người lao động nữ.

Hết thời gian nghỉ thai sản 06 tháng, nếu có nhu cầu lao động nữ nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thỏa thuận với người sử dụng lao động. Tuy nhiên, tại Khoản 4 Điều 139 Bộ luật lao động năm 2019 quy định:

Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng nhưng người lao động phải báo trước, được người sử dụng lao động đồng ý và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động.

Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

  1. Đối với quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai

Điều 138 Bộ luật lao động năm 2019 quy định lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động, kèm theo ý kiến đề nghị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.

Thời hạn báo trước để đơn phương chấm dứt, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động theo thời hạn mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.

Trường hợp tạm hoãn thực hiện lao động, thời gian tạm hoãn do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động, những tối thiểu phải bằng thời gian cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉ.

Trường hợp không có chỉ định của cơ sở khám chữa bệnh thì hai bên thỏa thuận về thời gian tạm hoãn thực hiện lao động.

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 139 Bộ luật lao động năm 2019 quy định: Lao động nam khi vợ sinh con, người lao động nhận nuôi con dưới 06 tháng tuổi, lao động nữ mang thai hộ và người lao động là người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ viiẹc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

  1. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với lao động nữ

Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật lao động năm 2019 thì người sử dụng lao động khi sử dụng lao động nữ phải tuân theo một số nghĩa vụ sau đây:

  • Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác.
  • Tham khảo ý kiến của lao động nữ hoặc đại diện của họ khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ.
  • Bảo đảm có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc.
  • Giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho lao động nữ.