Những hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động

Các nhà làm luật luôn chú trọng và tập trung bảo vệ quyền lợi của người lao động, tránh trường hợp người sử dụng lao động lợi dụng quyền quản lý, nắm giữ tư liệu sản xuất trong tay mà gây thiệt hại cho người lao động.

So với Bộ luật lao động 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2015, 2018 thì Bộ luật lao động năm 2019 đã bổ sung việc lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích mua bán người, bóc lột vào các hành vi bị nghiêm cấm.

Căn cứ vào Điều 8 Bộ luật lao động năm 2019, các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động bao gồm:

  • Phân biệt đối xử trong lao động.
  • Ngược đãi người lao động, cưỡng bức lao động.
  • Quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
  • Lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người học nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật.
  • Sử dụng lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với nghề, công việc phải sử dụng lao động đã được đào tạo hoặc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
  • Lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích mua bán người, bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc lợi dụng dịch vụ việc làm, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để thực hiện hành vi trái pháp luật.
  • Sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật.

Việc quy định rõ ràng, cụ thể như trên nhằm bảo đảm sức khỏe, tính mạng của người lao động; phù hợp với quy định của pháp luật hình sự.

Một trong những quy định Bộ luật lao động 2019 đó là phân biệt đối xử trong lao động. Đây là quy định hoàn toàn mới so với Bộ luật lao động 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2015, 2018.

Căn cứ khoản 8 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2019:

Phân biệt đối xử trong lao động là hành vi phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên dựa trên chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hoặc nguồn gốc xã hội, dân tộc, giới tính, độ tuổi, tình trạng thai sản, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, tín ngưỡng, chính kiến, khuyết tật, trách nhiệm gia đình hoặc trên cơ sở tình trạng nhiễm HIV hoặc vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn, tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp có tác động làm ảnh hưởng đến bình đẳng về cơ hội việc làm hoặc nghề nghiệp.

Việc phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc và các hành vi duy trì, bảo vệ việc làm cho người lao động dễ bị tổn thương thì không bị xem là phân biệt đối xử.

Việc quy định rõ về phân biệt đối xử trong lao động giúp cơ quan chức năng có cơ sở pháp lý rõ ràng để xử lý những cá nhân, tổ chức có hành vi phân biệt, đối xử trong lao động nếu có, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người lao động./.