Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi bị chậm lương

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là việc tự ý chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn mà không có sự cùng thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động của một trong các bên tham gia quan hệ hợp đồng lao động.

Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019, nếu người lao động không được trả đủ lương hoặc trả không đúng hạn thì được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước.

Trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày, nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền chậm trả tính theo lãi xuất huy động tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.

So với quy định tại Điều 37 Luật lao động năm 2012 thì Bộ luật lao động năm 2019 không còn yêu cầu người lao động phải báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất 3 ngày mà được quyền chấm dứt ngay lập tức.

Khi tiền lương không trả đủ hoặc không đúng hạn sẽ gây ảnh hưởng đến đời sống của người lao động và gia đình họ, điều này cũng thể hiện người lao động thất hứa với người lao động.

Bởi vậy, Bộ luật lao động năm 2019 cho phép người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần phải báo trước cho người sử dụng lao động là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, đảm bảo được quyền, lợi ích của người lao động.

Tuy nhiên trong trường hợp người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì người lao động cũng cần có sự chia sẻ khó khăn này với người sử dụng lao động.

Trường hợp bất khả kháng mà người sử dụng lao động chậm trả lương.

Trường hợp này là người sử dụng lao động đang gặp khó khăn nên Bộ luật lao động đã cho phép người lao động chậm trả lương không quá 30 ngày và trường hợp chậm trả từ 15 ngày trở lên thì phải trả cho người lao động một khoản tiền bằng số tiền lãi của số tiền chậm trả tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương (quy định tại Khoản 4 Điều 97 Bộ luật lao động năm 2019). Như vậy sẽ đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động./.