Điểm mới về tuổi nghỉ hưu theo Bộ luật lao động năm 2019

Điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019 so với Bộ luật lao động năm 2012 về bảo hiểm xã hội chính là về tuổi nghỉ hưu của người lao động.

  1. Sửa đổi quy định về tuổi nghỉ hưu của người lao động

Độ tuổi nghỉ hưu của người lao động được quy định cụ thể tại Điều 169 Bộ luật lao động năm 2019 so với quy định của Bộ luật lao động năm 2012 độ tuổi nghỉ hưu của người lao động làm công việc trong điều kiện bình thường đối với nam là 60 tuổi, nữ là 55 tuổi.

Người lao động bị suy giảm khả năng lao động, làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thuộc danh mục do Chính phủ quy định có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn khoảng 5 tuổi.

Còn theo Bộ luật lao động năm 2019 thì độ tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường sẽ được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với nữ vào năm 2035.

Như vậy độ tuổi nghỉ hưu của người lao động tăng lên và kể từ ngày 01/01/2021 mỗi năm tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường sẽ tăng thêm 3 tháng đối với lao động nam và 4 tháng đối lao động nữ.

  1. Việc tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động xuất phát từ một số cơ sở như sau:
  • Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng lên khiến tuổi thọ trung bình và tuổi nghỉ hưu bình quân có khoảng cách khá xa. Thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đến năm 2016 thì tuổi thọ trung bình của nam là 73 và nữ là 75 tuổi.

Trong khi đó, tuổi nghỉ hưu bình quân năm 2016 trên cả nước là 54,17 tuổi do đó khoảng thời gian hưởng lương hưu gần 20 năm, đây là khoảng thời gian khá dài. Vì vây, với quy định và thực hiện như hiện nay, thì hệ thống hưu trí sẽ không đáp ứng được các tiêu chí về bền vững tài chính và công bằng trong điều kiện dân số già hóa.

  • Người lao động tham gia lao động trong điều kiện bình thường thì tuổi nghỉ hưu đối với nữ là 55 tuổi và nam là 60 tuổi, như vậy quy định độ tuổi của Việt Nam khá thấp so với các nước trên thế giới trong khi việc tăng tuổi nghỉ hưu đang là xu thế chung của các quốc gia.
  • Bảo đảm sự không phân biệt đối xử về tuổi nghỉ hưu giữa lao động nam và lao động nữ để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế trong công ước của Liên hợp quốc (Công ước CEDAW) và công ước của Tổ chức lao động quốc tế (Công ước số 111).
  • Thực hiện theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách bảo hiểm xã hội đó là: Từ năm 2021, thực hiện điều chỉnh việc nghỉ hưu theo mục tiêu chung, thu hẹp khoảng cách về giới trong quy định về tuổi nghỉ hưu, đối với những nghành nghề đặc biệt, người lao động được nghỉ hưu sớm hoặc muộn hơn 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu chung.

Vì vậy việc Bộ luật lao động năm 2019 tăng tuổi nghỉ hưu lên như vậy là hợp lý và cũng không tăng đột ngột mà quy định mỗi năm tăng 3 tháng đối với nam và 4 tháng đối với nữ. Quyền lợi về bảo hiểm xã hội cũng không vì vậy mà bị ảnh hưởng. Điều này thuận lợi cho việc triển khai thực thi các quy định của pháp luật về tuổi nghỉ hưu trên thực tế.

Bên cạnh đó, Bộ luật lao động năm 2019 còn cho phép đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại và nơi làm việc đặc biệt khó khăn thì tuổi nghỉ hưu giảm xuống tối đa không quá 5 tuổi. Người lao động trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và trường hợp đặc biệt có thể kéo dài tuổi nghỉ hưu những không được quá 5 tuổi.

Quy định này nhằm phân định rõ tuổi nghỉ hưu và tuổi nghề. Tuy nhiên việc có tiếp tục làm hay không là quyền của người lao động và nhu cầu của người sử dụng lao động nên trong trương hợp này cần có sự thỏa thuận của cả người lao động và người sử dụng lao động.

  1. Sửa đổi quy định về điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí

Vì tuổi nghi hưu có sự thay đổi nên chế độ hưu trí đối với người lao động từ năm 2021 cũng có sự thay đổi theo cho phù hợp cụ thể:

  • Đối với người lao động thuộc diện bảo hiểm xã hội bắt buộc
    • Người lao động khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
      • Đủ tuổi theo quy định tại Khoản 2 Điều 169 Bộ luật lao động năm 2019.
      • Đủ tuổi theo quy định tại Khoản 3 Điều 169 Bộ luật lao động.
      • Đủ tuổi theo quy định tại Khoản 3 Điều 169 và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01/01/2021.
      • Người lao động có độ tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu của người lao động quy định tại Khoản 2 Điều 169 của Bộ luật lao động năm 2019 và có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò.
      • Người bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.
    • Người lao động thuộc lực lượng vũ trang nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
      • Có tuổi thấp hơn tối đa 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại Khoản 2 Điều 169 của Bộ luật lao động, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, Luật công an nhân dân, Luật cơ yếu, Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhan và viên chức quốc phòng có quy định khác.
      • Có tuổi thấp hơn tối đa 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại Khoản 3 Điều 169 của Bộ luật lao động và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01/01/2021.
      •  Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.
      • Lao động nữ là các bộ, công chức cấp xã hoặc là người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc mà có đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và đủ tuổi nghỉ hưu quy định tại Khoản 2 Điều 169 Bộ luật lao động thù được hưởng lương hưu.
      • Điều kiện hưởng lương hưu đối với một số trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.
  • Về điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động
    • Người lao động khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu với mức trợ cấp thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu thông thường nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
      • Có tuổi thấp hơn tối đa 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại Khoản 2 Điều 169 của Bộ luật lao động khi bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%.
      • Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại Khoản 2 Điêu 169 của Bộ luật lao động khi bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.
      • Có đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ lao động, Thương binh và Xã hội ban hành và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
    • Người lao động thuộc lực lượng vũ trang khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu thông thường khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
      • Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại Khoản 2 Điều 169 của Bộ luật lao động.
      • Có đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ lao động – Thương binh và Xã hội ban hành.
  • Đối với người thuộc diện bảo hiểm xã hội tự nguyện

Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng lương hưu khi có đủ các điều kiện sau đây:

    • Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Khoản 2 Điều 169 của Bộ luật lao động.
    • Đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên./.