4 điểm mới về người lao động cao tuổi

Bộ luật lao động năm 2019 được ban hành dẫn đến những quy định mới đối với người lao động cao tuổi.

  1. Độ tuổi của người lao động cao tuổi

Quy định tăng độ tuổi làm căn cứ xác định người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 148 Bộ luật lao động năm 2019 định nghĩa người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi nghỉ hưu theo quy định.

Theo đó, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường đối với nam là đủ 62 tuổi vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với nữ vào năm 2035 (Điều 169 Bộ luật lao động năm 2019). So với bộ luật lao động năm 2012 độ tuổi nghỉ hưu đối với nam là đủ 60 tuổi và đối với nữ là đủ 55 tuổi có thể thấy độ tuổi nghỉ hưu của người lao động được kéo dài thêm.

  1. Giao kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn với người lao động cao tuổi

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 149 Bộ luật lao động quy định năm 2019, khi sử dụng lao động cao tuổi, người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận giao kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn mà không bị ràng buộc như các trường hợp thông thường khác.

Quy định nói trên của Bộ luật lao động năm 2019 đã khắc phục những hạn chế của Bộ luật lao động năm 2012. Theo đó, khoản 4 Điều 36 Bộ Luật lao động năm 2012 quy định hợp đồng lao động chấm dứt khi người lao động đủ độ tuổi nghỉ hưu và số năm đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 148/2018/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung Nghị định số 05/2015/NĐ-CP) hướng dẫn khi người sử dụng lao động không có nhu cầu hoặc người lao động cao tuổi không có đủ sức khỏe thì hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

Tuy nhiên có rất nhiều trường hợp người lao động khi đủ độ tuổi nghỉ hưu mà số năm đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ và không có nhu cầu thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động dẫn đến doanh nghiệp không có căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng, gây khó khăn trong quá trình sử dụng lao động.

Vì vậy theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019 quy định về việc người sử dụng lao động được giao kết nhiều lần loại hợp đồng lao động xác định thời hạn với người lao động cao tuổi, đồng thời khắc phục được những thiếu sót trong quy định của Bộ luật lao động năm 2012.

  1. Cho phép hai bên thỏa thuận hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian

Theo quy định tại Bộ luật lao động năm 2019, người lao động cao tuổi có quyền thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian (Khoản 2 Điều 148).

So với Bộ luật lao động năm 2012, Bộ luật lao động năm 2019 đã bỏ đi những quy định năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu, người lao động được rút ngắn thời giờ làm việc bình thường hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian (Khoản 3 Điều 166 Bô luật lao động năm 2012).

Ngoải ra, thay vì quy định người lao động đương nhiên có quyền hay người sử dụng lao động đương nhiên phải có trách nhiệm rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian với người lao động cao tuổi (Khoản 2 Điều 166 Bộ luật lao động năm 2012) thì hiện nay Bộ luật lao động năm 2019 quy định quyền chủ động của người lao động cao tuổi được thỏa thuận với người sử dụng lao động về vấn đề này.

Vì vậy, nếu người lao động không đề xuất thỏa thuận, người sử dụng lao động có thể áp dụng thời gian làm việc bình thường với người lao động cao tuổi mà không cần phải ưu tiên.

  1. Sửa đổi quy định về việc sử dụng người lao động cao tuổi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

Dựa trên mục tiêu bảo vệ đối tượng lao động cao tuổi, Bộ luật lao động năm 2019 quy định cấm sử dụng lao động cao tuổi làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của họ.

Tuy nhiên, để đảm bảo phù hợp với nhu cầu của các bên, pháp luật vẫn cho phép sử dụng lao động cao tuổi làm nhóm công việc này khi bảo đảm các điều kiện làm việc an toàn (Khoản 4 Điều 149 Bô luật lao động năm 2012). Hiện nay vấn đề đó được áp dụng cụ thể trong quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015.

Dựa trên quy định của Bộ luật lao động năm 2019 và Nghị định 148/2018/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 05/2015/NĐ-CP về hướng dẫn, thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động, để sử dụng lao động cao tuổi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, ngoài điều kiện chung về khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần, các bên còn phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

  • Phải là người có kinh nghiệm với thâm niên nghề từ đủ 15 năm trở lên, trong đó có ít nhất 10 năm hành nghề liên tục đến trước thời điểm kí hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi.
  • Là người có tay nghề cao, có chứng nhận hoặc chứng chỉ nghề hoặc được công nhận là nghệ nhân theo quy định của pháp luật, người lao động phải tổ chức kiểm tra, sát hạch trước khi kí hợp đồng lao động.
  • Phải có đủ sức khỏe theo tiêu chuẩn sức khỏe do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành sau khi có ý kiến của bộ chuyên ngành tương ứng với nghề công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
  • Chỉ sử dụng không quá 05 năm với từng người lao động cao tuổi.
  • Phải bố chí ít nhất 01 người lao động không phải là người lao động cao tuổi cùng làm với người lao động cao tuổi khi triển khai công việc tại nơi làm việc.
  • Có đơn của người lao động cao tuổi về sự tự nguyện làm việc để người sử dụng lao động xem xét trước khi kí hợp đồng lao động./.